Miss Earth 2011, the 11th edition of the Miss Earth pageant, was held on December 3, 2011 at the University of the Philippines Theater in Diliman, Quezon City, Philippines.[2] The show was aired live by Channel V at 8:00pm, while Star World broadcast on Sunday, December 4 at 6:00 p.m., ABS-CBN and Studio 23 broadcast on the same day at 10:30 p.m. There was also a delayed telecast of the show on The Filipino Channel and on the television stations of other participating countries
Sao hàn - Tổng hợp tất cả bài viết về Sao hàn, hình ảnh về Sao hàn, video liên quan tới Sao hàn.
Thứ Ba, 28 tháng 2, 2012
Nuestra Belleza México 2012, Karina González
More photos of Karina González, Nuestra Belleza México 2012 or Miss Mexico Universe 2012. González was crowned Nuestra Belleza Aguascalientes the night of July 7, 2011, and subsequently represented her state in the national competition. She was crowned Nuestra Belleza México 2011 at the Centro Internacional de Convenciones of Puerto Vallarta, Jalisco on the night of August 20, 2011. González is 20 years old and stands 1.76 m. She will represent Mexico in Miss Universe 2012. She studies architecture at the Universidad Autónoma de Aguascalientes located in her hometown Aguascalientes.
Beautypageantnews
Miss New York USA 2012 Johanna Sambucini Bikini Photos
Check out the photos of Miss USA 2012 Contestant Johanna Sambucini in Bikini. She was crowned Miss New York USA 2012 on January 15, 2012 at the Purchase College Performing Arts Center, Purchase, New York. Johanna Sambucini will represent New York in Miss USA 2012 Pageant.
Born in the Dominican Republic, and currently living in NYC, this Dominican/Italian beauty is truly a hardworking, highly motivated, and perseverant young career woman. Johanna Sambucini graduated with Cum Laude Honors with a Bachelors Degree and is currently finishing up her Masters Degree in Business Administration and working as a full time model. Johanna wants to turn her love of fashion into her own chain of boutiques and restaurant business. Johanna is outgoing, funny, ambitious ,quite creative and full of energy. Johanna Sambucini possess the strength and intelligence to achieve all of her goals, but the best part about her is that she is also very down-to-earth and a truly caring person. Johanna is also a humanitarian and one of her goals is to help her native Dominican Republic build schools and hospitals to provide a better education and care for the children in need. Johanna Sambucini will be running for Miss New York USA 2012. Her platform will touch on the importance of raising awareness and care for autistic children.
Photo Courtesy of Johanna Sambucini Facebook.
Photo Courtesy of Johanna Sambucini Facebook.
Lady Gaga First Photo Shoot | 19 Years Old | Gossip Cop
PHOTOS
(Malgorzata Saniewska)
In 2005, 19-year-old Stefani Germanotta worked alongside an aspiring photographer named Malgorzata Saniewska at a New York restaurant.
“We were colleagues, we didn’t hang out really heavily, but she’s the nicest girl ever… She’s down-to-earth,” Saniewska tells CNN. “Based on her looks and her personality, I thought (a photo shoot) would be great fun.”
And so Saniewska shot what is believed to be the first-ever Lady Gaga pictorial.
The shoot yielded approximately 200 never-before-seen photos, 15 of which Saniewska just released.
Not surprisingly, a piano is prominently featured.
In 2005, 19-year-old Stefani Germanotta worked alongside an aspiring photographer named Malgorzata Saniewska at a New York restaurant.
“We were colleagues, we didn’t hang out really heavily, but she’s the nicest girl ever… She’s down-to-earth,” Saniewska tells CNN. “Based on her looks and her personality, I thought (a photo shoot) would be great fun.”
And so Saniewska shot what is believed to be the first-ever Lady Gaga pictorial.
The shoot yielded approximately 200 never-before-seen photos, 15 of which Saniewska just released.
Not surprisingly, a piano is prominently featured.
(Malgorzata Saniewska)
(Malgorzata Saniewska)
(Malgorzata Saniewska)
(Malgorzata Saniewska)
(Malgorzata Saniewska)
(Malgorzata Saniewska)
(Malgorzata Saniewska)
(Malgorzata Saniewska)
(Malgorzata Saniewska)
Chủ Nhật, 26 tháng 2, 2012
The Australian Fashion Model Miranda May Kerr
The Australian Fashion Model Miranda May Kerr

Personal Details
Full name: Miranda May Kerr
Born on: 20 April 1983
Place in: Sydney, New South Wales, Australia
Height: 1.75 m (5 ft 9 in)
Hair color: Brown
Eye color: Blue
Measurements: 32-24-34 (US), 81-61-86 (EU)
Dress size: 6 US/36 EU
Spouse: Orlando Bloom (2010–present) (1 child)

Biography

The one of the famous celebrities Miranda May Kerr is an Australian fashion model greatest recognized as one of the Victoria's Secret Angels since mid-2007. She is the first Australian to take part in the Victoria's Secret operation and also symbolizes Australian fashion chain David Jones. Kerr began modeling in the fashion commerce when she was 13, starting at Chaay's Modeling Agency, and soon after captivating a 1997 Australian national model search hosted by Dolly magazine and whim fragrances.

Awards and Nominations

No Awards and Nominations

Thứ Bảy, 25 tháng 2, 2012
Yakuza Nhật - Kỳ 3 : Các “bố già” yakuza
Những năm sau Thế chiến II, số lượng thành viên yakuza tăng lên 184.000 người và được chia làm 5.200 băng nhóm trên khắp nước Nhật, đông hơn cả quân đội Nhật Bản lúc bấy giờ. Lẽ dĩ nhiên là các băng nhóm này phải xâm phạm lãnh thổ hoạt động của nhau, dẫn đến những cuộc chiến phe nhóm tàn khốc và đẫm máu. Thủ lĩnh có công mang lại hòa bình giữa các phe nhóm và thống nhất tổ chức yakuza là “bố già” đầu tiên trong thế kỷ 20 được gọi bằng cái tên Yoshio Kodama.
Tài năng của Kodama được thể hiện ở khả năng cân bằng giữa các phe phái của hắn ở cả các nhóm chính trị cánh hữu và các băng nhóm tội phạm, lấy bên này để kiềm chế bên kia. Hắn là một con phe chính trị, người đã từng phục vụ chính phủ thông qua các hoạt động đưa hối lộ, làm gián điệp và các hoạt động kinh doanh bẩn thỉu khác.
Vào những năm 1930 và 1940, hắn chỉ huy một mạng lưới gián điệp rộng khắp ở Trung Quốc, thu thập tin tức cho chính phủ Nhật Bản. Hắn tiến hành nhiều chuyến vận chuyển các loại nguyên liệu như niken, coban, đồng, và rađi bằng tàu thủy để phục vụ cho mục đích chiến tranh. Thỉnh thoảng, hắn đổi những loại nguyên liệu này để lấy hêrôin. Khi chiến tranh kết thúc vào năm 1945, Kodama có khối tài sản tương đương với 175 triệu đô la Mỹ.
Sau khi Nhật Bản đầu hàng quân đồng minh, Kodama bị xếp vào loại tội phạm chiến tranh hạng A - hạng dành cho các bộ trưởng nội các, những người theo chủ nghĩa dân tộc cực đoan và các quan chức quân đội cao cấp - và được trả tự do sau hai năm ngồi tù.
Là một kẻ chống cộng điên cuồng lại nắm giữ trong tay những thông tin có giá trị liên quan đến các phong trào Cộng sản ở Trung Quốc, Nhật Bản và chỉ huy một nhóm tội phạm lớn, Kodama trở thành một mục tiêu hấp dẫn đối với các lực lượng chiếm đóng. Komada đóng vai trò của một kẻ trung gian giữa các lực lượng chiếm đóng và các tổ chức yakuza. Hắn có khả năng huy động số lượng các tên găngxtơ đông đến hàng tiểu đoàn để thực hiện các mưu đồ chính trị. Năm 1949, CIA trả cho hắn 150 nghìn đô la Mỹ, đổi lại, CIA được sử dụng các mối quan hệ của hắn trong thế giới ngầm để bí mật đưa một tàu chở vonfram ra khỏi Trung Quốc. Mặc dù chuyến hàng này không đến được nơi nó cần đến nhưng Kodama vẫn nắm trong tay không thiếu một đồng cắc nào như CIA đã hứa.
Kodama sử dụng tổ chức yakuza để đàn áp bất kỳ hoạt động nào mà có thể bị coi là một sáng kiến của tổ chức cộng sản. Năm 1949, Kodama ra lệnh cho một băng nhóm tội phạm, Meiraki-gumi, giải tán một phong trào lao động ở mỏ than Hokutan. Hắn cũng đã tiến hành một số cải cách đối với các nhóm yakuza không đoàn kết, thiếu tổ chức và thiết lập các liên minh giữa các nhóm lớn, ủng hộ đảng Dân chủ tự do chống cộng.
Một thủ lĩnh huyền thoại khác trong thế giới yakuza là Kazuo Taoka, “bố già” của Yamaguchi-gumi, gia đình tội phạm lớn nhất ở Nhật Bản. Hắn nắm giữ vai trò thủ lĩnh trong 35 năm cho đến lúc qua đời vào năm 1981. Dưới sự chỉ huy của Taoka, số thành viên của Yamaguchi-gumi phát triển lên đến 13.000 tên. Chúng hoạt động ở 36 trong tổng số 47 quận ở Nhật Bản và kiểm soát hơn 2.500 doanh nghiệp, tổ chức các hoạt động đánh bạc và các công ty cho vay nặng lãi, đầu tư lớn vào lĩnh vực thể thao và giải trí.

Khu vực bến cảng Kobe.
Đầu tiên, Taoka phát triển thế lực ở thành phố cảng Kobe. Ở đây, các băng nhóm của hắn quản lý những người lao động không có tay nghề và buộc họ phải làm việc với thu nhập rất thấp cho các công ty vận tải biển. Các băng nhóm yakuza khác cũng lao vào tranh giành thị trường béo bở này, nhưng dưới sự chỉ huy của Taoka, Yamaguchi-gumi luôn chiếm thị phần lớn trong lĩnh vực cung cấp nhân công.
Không giống như Yoshio Kodama, một kẻ không ưa bạo lực, Taoka đã gắn bó với công cụ này trong toàn bộ cuộc đời của hắn. Vốn là một đứa trẻ mồ côi, Taoka buộc phải làm việc trên các xưởng đóng tàu ở Kobe. Ở đây hắn đã được một thủ lĩnh của một băng nhóm ở địa phương có tên là Noburu Yamaguchi để mắt đến. Lúc còn trẻ, Taoka là một tay côn đồ hung hãn. Khi tấn công đối phương, hắn thường sử dụng miếng móc mắt đối phương. Điều này khiến hắn được đặt biệt danh Kuma (gấu). Năm 1936, hắn bị kết án 8 năm tù giam vì đã sát hại một đối thủ.

Sinh năm 1923 dưới thời Nhật Bản chiếm đóng Triều Tiên, Machii là một tay lưu manh có nhiều tham vọng. Hắn đã nhận thấy cơ hội phát triển ở Nhật Bản và ngay lập tức nắm lấy cơ hội này. Sau khi Nhật đầu hàng quân đồng minh, Machii làm việc cho tổ chức phản gián của Mỹ.
Trong khi thủ lĩnh của các tổ chức yakuza của Nhật Bản bị bắt giam hoặc bị các lực lượng chiếm đóng giám sát chặt chẽ, thì tổ chức của “bố già” người Triều Tiên này được tự do tiếp quản các thị trường chợ đen béo bở. Nhưng thay vì cạnh tranh với các bố già Nhật Bản, Machii đã liên kết với chúng. Trong suốt thời gian làm thủ lĩnh, hắn vẫn duy trì mối quan hệ gần gũi với cả Kodama và Taoka.
Năm 1948, Machii thành lập băng Tosei-kai và nhanh chóng tiếp quản quận Ginza ở thủ đô Tôkyô. Tosei-kai trở nên hùng mạnh đến mức chúng được gọi là “cảnh sát Ginza”, và thậm chí cả “bố già” Taoka của băng nhóm quyền lực nhất Yamaguchi-gumi cũng phải ký kết một thỏa thuận với Machii cho phép nhóm đó hoạt động ở Tôkyô. Băng của Machii hoạt động trên nhiều lĩnh vực bao gồm du lịch, giải trí, quán rượu, nhà hàng, mại dâm và nhập khẩu dầu lửa. Chỉ tính riêng trong lĩnh vực đầu tư bất động sản, hắn và Kodama đã kiếm được số tài sản kếch xù.
Quan trọng hơn, hắn đã ký kết được các thoả thuận với chính phủ Hàn Quốc cho phép những tên tội phạm người Nhật thành lập các khu ăn chơi ở Hàn Quốc. Nhờ có Maichii, Hàn Quốc trở thành ngôi nhà thứ hai của các tổ chức yakuza. Bởi có công là cầu nối giữa thế giới ngầm của hai nước, Maichii giành được quyền cung cấp dịch vụ chuyên chở bằng phà lớn nhất giữa thành phố Shimanoseki, Nhật Bản, và thành phố Pusan, Hàn Quốc - tuyến đường ngắn nhất kết nối giữa hai quốc gia này.
Vào giữa những năm 1960, trước áp lực từ phía cảnh sát, Machii buộc phải chính thức giải tán băng Tosei-kai. Hắn liền thành lập hai tổ chức khác vào khoảng thời gian này, Towa Sogo Kigyo (Công ty Đông Á) và Towa Yuai Jigyo Kumiai (Hiệp hội doanh nghiệp hữu nghị Đông Á). Đây là những tấm bình phong cho các hoạt động tội phạm của hắn. Maichii “rửa tay gác kiếm” khi hắn đã ngoài 80 tuổi.
Tài năng của Kodama được thể hiện ở khả năng cân bằng giữa các phe phái của hắn ở cả các nhóm chính trị cánh hữu và các băng nhóm tội phạm, lấy bên này để kiềm chế bên kia. Hắn là một con phe chính trị, người đã từng phục vụ chính phủ thông qua các hoạt động đưa hối lộ, làm gián điệp và các hoạt động kinh doanh bẩn thỉu khác.
Vào những năm 1930 và 1940, hắn chỉ huy một mạng lưới gián điệp rộng khắp ở Trung Quốc, thu thập tin tức cho chính phủ Nhật Bản. Hắn tiến hành nhiều chuyến vận chuyển các loại nguyên liệu như niken, coban, đồng, và rađi bằng tàu thủy để phục vụ cho mục đích chiến tranh. Thỉnh thoảng, hắn đổi những loại nguyên liệu này để lấy hêrôin. Khi chiến tranh kết thúc vào năm 1945, Kodama có khối tài sản tương đương với 175 triệu đô la Mỹ.
Sau khi Nhật Bản đầu hàng quân đồng minh, Kodama bị xếp vào loại tội phạm chiến tranh hạng A - hạng dành cho các bộ trưởng nội các, những người theo chủ nghĩa dân tộc cực đoan và các quan chức quân đội cao cấp - và được trả tự do sau hai năm ngồi tù.
Là một kẻ chống cộng điên cuồng lại nắm giữ trong tay những thông tin có giá trị liên quan đến các phong trào Cộng sản ở Trung Quốc, Nhật Bản và chỉ huy một nhóm tội phạm lớn, Kodama trở thành một mục tiêu hấp dẫn đối với các lực lượng chiếm đóng. Komada đóng vai trò của một kẻ trung gian giữa các lực lượng chiếm đóng và các tổ chức yakuza. Hắn có khả năng huy động số lượng các tên găngxtơ đông đến hàng tiểu đoàn để thực hiện các mưu đồ chính trị. Năm 1949, CIA trả cho hắn 150 nghìn đô la Mỹ, đổi lại, CIA được sử dụng các mối quan hệ của hắn trong thế giới ngầm để bí mật đưa một tàu chở vonfram ra khỏi Trung Quốc. Mặc dù chuyến hàng này không đến được nơi nó cần đến nhưng Kodama vẫn nắm trong tay không thiếu một đồng cắc nào như CIA đã hứa.
Kodama sử dụng tổ chức yakuza để đàn áp bất kỳ hoạt động nào mà có thể bị coi là một sáng kiến của tổ chức cộng sản. Năm 1949, Kodama ra lệnh cho một băng nhóm tội phạm, Meiraki-gumi, giải tán một phong trào lao động ở mỏ than Hokutan. Hắn cũng đã tiến hành một số cải cách đối với các nhóm yakuza không đoàn kết, thiếu tổ chức và thiết lập các liên minh giữa các nhóm lớn, ủng hộ đảng Dân chủ tự do chống cộng.
Một thủ lĩnh huyền thoại khác trong thế giới yakuza là Kazuo Taoka, “bố già” của Yamaguchi-gumi, gia đình tội phạm lớn nhất ở Nhật Bản. Hắn nắm giữ vai trò thủ lĩnh trong 35 năm cho đến lúc qua đời vào năm 1981. Dưới sự chỉ huy của Taoka, số thành viên của Yamaguchi-gumi phát triển lên đến 13.000 tên. Chúng hoạt động ở 36 trong tổng số 47 quận ở Nhật Bản và kiểm soát hơn 2.500 doanh nghiệp, tổ chức các hoạt động đánh bạc và các công ty cho vay nặng lãi, đầu tư lớn vào lĩnh vực thể thao và giải trí.

Khu vực bến cảng Kobe.
Không giống như Yoshio Kodama, một kẻ không ưa bạo lực, Taoka đã gắn bó với công cụ này trong toàn bộ cuộc đời của hắn. Vốn là một đứa trẻ mồ côi, Taoka buộc phải làm việc trên các xưởng đóng tàu ở Kobe. Ở đây hắn đã được một thủ lĩnh của một băng nhóm ở địa phương có tên là Noburu Yamaguchi để mắt đến. Lúc còn trẻ, Taoka là một tay côn đồ hung hãn. Khi tấn công đối phương, hắn thường sử dụng miếng móc mắt đối phương. Điều này khiến hắn được đặt biệt danh Kuma (gấu). Năm 1936, hắn bị kết án 8 năm tù giam vì đã sát hại một đối thủ.
“Bố già” người Triều Tiên Hisayuki Machii cũng là một nhân vật sừng sỏ trong thế giới yakuza ở Nhật.
Sinh năm 1923 dưới thời Nhật Bản chiếm đóng Triều Tiên, Machii là một tay lưu manh có nhiều tham vọng. Hắn đã nhận thấy cơ hội phát triển ở Nhật Bản và ngay lập tức nắm lấy cơ hội này. Sau khi Nhật đầu hàng quân đồng minh, Machii làm việc cho tổ chức phản gián của Mỹ.
Trong khi thủ lĩnh của các tổ chức yakuza của Nhật Bản bị bắt giam hoặc bị các lực lượng chiếm đóng giám sát chặt chẽ, thì tổ chức của “bố già” người Triều Tiên này được tự do tiếp quản các thị trường chợ đen béo bở. Nhưng thay vì cạnh tranh với các bố già Nhật Bản, Machii đã liên kết với chúng. Trong suốt thời gian làm thủ lĩnh, hắn vẫn duy trì mối quan hệ gần gũi với cả Kodama và Taoka.
Năm 1948, Machii thành lập băng Tosei-kai và nhanh chóng tiếp quản quận Ginza ở thủ đô Tôkyô. Tosei-kai trở nên hùng mạnh đến mức chúng được gọi là “cảnh sát Ginza”, và thậm chí cả “bố già” Taoka của băng nhóm quyền lực nhất Yamaguchi-gumi cũng phải ký kết một thỏa thuận với Machii cho phép nhóm đó hoạt động ở Tôkyô. Băng của Machii hoạt động trên nhiều lĩnh vực bao gồm du lịch, giải trí, quán rượu, nhà hàng, mại dâm và nhập khẩu dầu lửa. Chỉ tính riêng trong lĩnh vực đầu tư bất động sản, hắn và Kodama đã kiếm được số tài sản kếch xù.
Quan trọng hơn, hắn đã ký kết được các thoả thuận với chính phủ Hàn Quốc cho phép những tên tội phạm người Nhật thành lập các khu ăn chơi ở Hàn Quốc. Nhờ có Maichii, Hàn Quốc trở thành ngôi nhà thứ hai của các tổ chức yakuza. Bởi có công là cầu nối giữa thế giới ngầm của hai nước, Maichii giành được quyền cung cấp dịch vụ chuyên chở bằng phà lớn nhất giữa thành phố Shimanoseki, Nhật Bản, và thành phố Pusan, Hàn Quốc - tuyến đường ngắn nhất kết nối giữa hai quốc gia này.
Vào giữa những năm 1960, trước áp lực từ phía cảnh sát, Machii buộc phải chính thức giải tán băng Tosei-kai. Hắn liền thành lập hai tổ chức khác vào khoảng thời gian này, Towa Sogo Kigyo (Công ty Đông Á) và Towa Yuai Jigyo Kumiai (Hiệp hội doanh nghiệp hữu nghị Đông Á). Đây là những tấm bình phong cho các hoạt động tội phạm của hắn. Maichii “rửa tay gác kiếm” khi hắn đã ngoài 80 tuổi.
Đình Vũ (tổng hợp)
Thứ Hai, 20 tháng 2, 2012
Yakuza Nhật - Kỳ 2: Cơ cấu của yakuza và những tập tục quái đản
Cũng giống như tổ chức mafia, cơ cấu quyền lực của yakuza được xây dựng theo hình tháp. Đứng đầu là một thủ lĩnh và tiếp theo là các thuộc hạ trung thành được phân ra thành nhiều cấp khác nhau.
Cấu trúc của một tổ chức mafia thì tương đối đơn giản. Ông chủ điều hành gia đình với sự trợ thủ của các phó tướng và các cố vấn. Ở cấp dưới, các đội trưởng cai quản đám thuộc hạ. Những đám thuộc hạ lại có những tay chân (những tên chưa được chính thức tuyển vào tổ chức mafia) để thực thi các mệnh lệnh.
Hệ thống yakuza cũng tương tự như vậy nhưng phức tạp hơn. Nguyên tắc cốt lõi của cấu trúc yakuza là mối quan hệ cha - con. Khi một người được tuyển vào tổ chức yakuza, người đó phải chấp nhận mối quan hệ này, phải hứa trung thành và phục tùng vô điều kiện ông chủ của mình. Các ông chủ, giống như bất kỳ một ông bố tốt nào, đều phải có trách nhiệm bảo vệ và đưa các lời khuyên bảo cho các đứa con của mình.
Cơ cấu lãnh đạo trong tổ chức yakuza cũng phức tạp hơn rất nhiều so với cơ cấu lãnh đạo của tổ chức mafia. Đứng ngay dưới thủ lĩnh tối cao là cố vấn cao cấp và thủ lĩnh. Nhân vật số hai là thủ lĩnh vùng chịu trách nhiệm cai quản nhiều băng nhóm; người này được sự trợ thủ của những người chịu trách nhiệm điều hành một vài băng nhóm. Thấp hơn thủ lĩnh vùng là những người quản lý những băng nhóm nhỏ và các nhân vật này thường có một người giúp việc cho mình.
Một người muốn được gia nhập tổ chức mafia nói trên bắt buộc phải tham gia một buổi lễ mà ở đó, người này sẽ phải trích máu từ ngón tay trỏ và nhỏ máu lên bức hình của một vị thánh. Bức hình sau đó sẽ được đốt cháy trên bàn tay của người xin gia nhập trong khi anh ta thề trung thành với gia đình tội phạm. Trong lễ kết nạp của yakuza, máu được tượng trưng bởi sake (rượu vang đỏ).
Thủ lĩnh và người xin gia nhập ngồi đối diện với nhau trong khi rượu của họ được chuẩn bị. Sake được trộn với muối và vảy cá, sau đó được rót cẩn thận vào các chén. Chén của thủ lĩnh được rót đầy tới miệng, cho phù hợp với đẳng cấp của người đó; người xin gia nhập được rót ít hơn. Họ uống một chút, rồi đổi chén cho nhau và người này lại uống cạn chén rượu của người kia. Khi đó, người xin gia nhập đã chứng tỏ được sự tận tụy của mình cho gia đình ông chủ. Kể từ thời khắc đó, vợ và các con của ngưòi gia nhập đều phải có bổn phận đối với gia đình ông chủ của mình.

Rượu sakê.
Nếu một thành viên yakuza làm ông chủ không hài lòng, hình phạt mà người đó phải nhận là bị chặt đứt đốt cuối của ngón tay út; nếu tái phạm lần hai thì bị chặt đứt đốt thứ hai của ngón tay đó. Thêm một lần mang trọng tội nữa thì hình phạt sẽ được áp dụng tương tự với ngón tay áp út. Một thành viên tự giác biết mình có tội sẽ phải tự chặt đứt đốt tay khi được đưa cho một con dao và một sợi dây để băng bó vết thương. Lúc này, lời nói là không cần thiết. Nguồn gốc của tập tục này có từ thời kỳ samurai.
Việc chặt đứt một phần của ngón tay út sẽ khiến việc cầm kiếm không còn được chắc như khi các ngón có đủ các đốt. Thanh kiếm dài của samurai được cầm đúng thì ngón tay út là ngón khỏe nhất. Ngón tay đeo nhẫn là ngón khỏe thứ hai, rồi đến ngón giữa, rồi ngón trỏ. Với một bàn tay bị tật nguyền, thành viên đó sẽ phải dựa nhiều hơn vào sự che chở của thủ lĩnh. Ngày nay, tập tục này chỉ còn mang tính tượng trưng, nhưng nó là một điểm mốc đối với một thành viên mắc tội.
Giống như các tổ chức mafia, yakuza trong những năm gần đây phải hạ thấp tiêu chuẩn để tuyển mộ thêm thành viên mới. Điều này khiến một số thành viên của tổ chức này cảm nhận rằng họ không còn được tổ chức tốt và có thế lực như trước đây. Thời xưa, việc tuyển chọn được ưu tiên đối với các tay cờ bạc hay những tên hành nghề chôm chỉa trên đường phố. Nhưng ngày nay, một người chỉ cần có tư tưởng nổi loạn và sẵn sàng phạm tội vì một ông chủ thì đã đủ điều kiện để được đứng trong hàng ngũ của yakuza. Hầu hết các thành viên mới hiện nay của yakuza đều xuất thân từ các băng mê tốc độ.
Việc hạ thấp các tiêu chí này của yakuza khiến Cơ quan cảnh sát quốc gia Nhật sử dụng thuật ngữ “những kẻ ưa bạo lực” để chỉ yakuza, đánh đồng tổ chức này với các nhóm tội phạm khác. Những thành viên coi yakuza là hậu duệ của các samurai trước đây phản đối cách gọi này và coi nó là một nỗi sỉ nhục.
Cấu trúc của một tổ chức mafia thì tương đối đơn giản. Ông chủ điều hành gia đình với sự trợ thủ của các phó tướng và các cố vấn. Ở cấp dưới, các đội trưởng cai quản đám thuộc hạ. Những đám thuộc hạ lại có những tay chân (những tên chưa được chính thức tuyển vào tổ chức mafia) để thực thi các mệnh lệnh.
Hệ thống yakuza cũng tương tự như vậy nhưng phức tạp hơn. Nguyên tắc cốt lõi của cấu trúc yakuza là mối quan hệ cha - con. Khi một người được tuyển vào tổ chức yakuza, người đó phải chấp nhận mối quan hệ này, phải hứa trung thành và phục tùng vô điều kiện ông chủ của mình. Các ông chủ, giống như bất kỳ một ông bố tốt nào, đều phải có trách nhiệm bảo vệ và đưa các lời khuyên bảo cho các đứa con của mình.
Cơ cấu lãnh đạo trong tổ chức yakuza cũng phức tạp hơn rất nhiều so với cơ cấu lãnh đạo của tổ chức mafia. Đứng ngay dưới thủ lĩnh tối cao là cố vấn cao cấp và thủ lĩnh. Nhân vật số hai là thủ lĩnh vùng chịu trách nhiệm cai quản nhiều băng nhóm; người này được sự trợ thủ của những người chịu trách nhiệm điều hành một vài băng nhóm. Thấp hơn thủ lĩnh vùng là những người quản lý những băng nhóm nhỏ và các nhân vật này thường có một người giúp việc cho mình.
Một người muốn được gia nhập tổ chức mafia nói trên bắt buộc phải tham gia một buổi lễ mà ở đó, người này sẽ phải trích máu từ ngón tay trỏ và nhỏ máu lên bức hình của một vị thánh. Bức hình sau đó sẽ được đốt cháy trên bàn tay của người xin gia nhập trong khi anh ta thề trung thành với gia đình tội phạm. Trong lễ kết nạp của yakuza, máu được tượng trưng bởi sake (rượu vang đỏ).
Thủ lĩnh và người xin gia nhập ngồi đối diện với nhau trong khi rượu của họ được chuẩn bị. Sake được trộn với muối và vảy cá, sau đó được rót cẩn thận vào các chén. Chén của thủ lĩnh được rót đầy tới miệng, cho phù hợp với đẳng cấp của người đó; người xin gia nhập được rót ít hơn. Họ uống một chút, rồi đổi chén cho nhau và người này lại uống cạn chén rượu của người kia. Khi đó, người xin gia nhập đã chứng tỏ được sự tận tụy của mình cho gia đình ông chủ. Kể từ thời khắc đó, vợ và các con của ngưòi gia nhập đều phải có bổn phận đối với gia đình ông chủ của mình.

Rượu sakê.
Việc chặt đứt một phần của ngón tay út sẽ khiến việc cầm kiếm không còn được chắc như khi các ngón có đủ các đốt. Thanh kiếm dài của samurai được cầm đúng thì ngón tay út là ngón khỏe nhất. Ngón tay đeo nhẫn là ngón khỏe thứ hai, rồi đến ngón giữa, rồi ngón trỏ. Với một bàn tay bị tật nguyền, thành viên đó sẽ phải dựa nhiều hơn vào sự che chở của thủ lĩnh. Ngày nay, tập tục này chỉ còn mang tính tượng trưng, nhưng nó là một điểm mốc đối với một thành viên mắc tội.
Giống như các tổ chức mafia, yakuza trong những năm gần đây phải hạ thấp tiêu chuẩn để tuyển mộ thêm thành viên mới. Điều này khiến một số thành viên của tổ chức này cảm nhận rằng họ không còn được tổ chức tốt và có thế lực như trước đây. Thời xưa, việc tuyển chọn được ưu tiên đối với các tay cờ bạc hay những tên hành nghề chôm chỉa trên đường phố. Nhưng ngày nay, một người chỉ cần có tư tưởng nổi loạn và sẵn sàng phạm tội vì một ông chủ thì đã đủ điều kiện để được đứng trong hàng ngũ của yakuza. Hầu hết các thành viên mới hiện nay của yakuza đều xuất thân từ các băng mê tốc độ.
Việc hạ thấp các tiêu chí này của yakuza khiến Cơ quan cảnh sát quốc gia Nhật sử dụng thuật ngữ “những kẻ ưa bạo lực” để chỉ yakuza, đánh đồng tổ chức này với các nhóm tội phạm khác. Những thành viên coi yakuza là hậu duệ của các samurai trước đây phản đối cách gọi này và coi nó là một nỗi sỉ nhục.
Đình Vũ (tổng hợp)
Thứ Năm, 16 tháng 2, 2012
Cuộc sống của những vị thần trinh nữ ở vương quốc Nepal
Qua ô cửa sổ nhỏ của ngôi đền, một cô bé gái khoảng chừng 4 tuổi xuất hiện trong bộ trang phục màu đỏ với tóc vấn cao cùng nhiều trang sức và một con mắt thứ ba được vẽ trên trán vô cùng huyền bí. Nữ thần có vẻ mặt hơi buồn, thờ ơ đưa mắt nhìn tất cả mọi người. Toàn thể dân chúng Nepal có mặt tại ngôi đền khi đó vội vàng quỳ rạp người, thành kính lạy lục và khấn vái.
Nhiệm kì của nữ thần
Đó là một ngày của tháng 10 khi mà người dân Nepal hoan hỉ ăn mừng lễ hội Desain - một trong những lễ hội lớn nhất của vương quốc nhỏ bé nằm trên dãy Himalaya này. Người dân Nepal háo hức truyền tai nhau về một Kumari - vị thần trinh nữ sống mới của họ, thay thế cho người tiền nhiệm đã bị phế truất do đến tuổi dậy thì. Vị thần trinh nữ mới có tên là Preeti Shakya, mới chỉ lên 4 tuổi.
Sau buổi lễ phong nữ thần diễn ra trong ngôi đền, Preeti Shakya sẽ từ bỏ cuộc sống bình thường của mình để trở thành vị thánh sống của người dân Nepal. Dù là người theo đạo Hindu hay đạo Phật đều sùng kính nữ thần này, coi nàng là cội nguồn cho sự thịnh vượng và hòa bình trên vương quốc.
Trong vòng 8 năm, cho tới tận tuổi dậy thì, Preeti Shakya sẽ được cả người Hindu và tín đồ Phật giáo sùng kính như một vị thánh bảo vệ cho đức vua và toàn thể thần dân của vương quốc Nepal.
Đúng 9 giờ sáng, vị nữ thần mới xuất hiện. Tất cả dân chúng bỗng nhốn nháo khi có ai đó hô lớn: “Nữ thần, nữ thần!”. Trong phút chốc, tất cả người dân quỳ rạp xuống đất và rầm rì khấn vái. Qua ô cửa sổ nhỏ của ngôi đền, nữ thần xuất hiện trong bộ trang phục màu đỏ với tóc vấn cao cùng nhiều trang sức và một con mắt thứ ba được vẽ trên trán vô cùng huyền bí. Nữ thần có vẻ mặt hơi buồn, thờ ơ đưa mắt nhìn tất cả mọi người.
Người dân Nepal lúc này mới có cơ hội được diện kiến vị nữ thần trinh nữ mới của vương quốc mình. Nữ thần có một làn da mịn màng, bàn tay nuột nà, đôi mắt trong sáng và hàm răng trắng đều tăm tắp. Tất cả mọi người đều tỏ ra hài lòng với sự lựa chọn của các giáo sĩ hoàng gia về nữ thần mới này. Họ tin rằng Preeti Shakya sẽ mang lại cho họ những may mắn và luồng sinh khí mới trong cuộc sống.
Từ khi bắt đầu cuộc sống của một Kumari, Preeti Shakya sẽ luôn phải mặc trên mình trang phục màu đỏ. Người ta cột chặt tóc cô bé thành búi và vẽ cho em một con mắt thứ ba vào giữa trán. Đây là con mắt xua đuổi tà ma trong đức tin của người Hindu.
Trong thời gian làm nữ thần, Preeti Shakya sẽ sống tách biệt với tất cả mọi người trong cung điện nhỏ của riêng mình với một chế độ sinh hoạt của nữ thần. Trước 7 giờ sáng mỗi ngày, “nữ thần sống” phải trở dậy với sự giúp đỡ của người hầu tiến hành vệ sinh cá nhân và trang điểm, khoác lên người bộ trang phục riêng của mình.
9 giờ sáng hàng ngày, Preeti Shakya phải tới ngai vàng ngồi để dân chúng tới lễ. Ngày nào cũng vậy, cứ vào lúc 12 giờ trưa và 4 giờ chiều, “nữ thần sống” phải mặc quần áo màu đỏ, đầu đội vương miện bằng bạc, đứng nơi cửa sổ để du khách chiêm ngưỡng. Những người dân Nepal quan niệm rằng việc nhìn thấy được nữ thần là một trong những điềm may mắn của họ.

Tục lệ thờ “nữ thần sống” ở Nepal bắt nguồn từ triều đại vua Mara
thế kỷ thứ 16, sau đó được triều đại vua Shara kế thừa.
Trong ngày lễ quan trọng, “nữ thần sống” được trang điểm kĩ lưỡng, khoác lên mình bộ quần áo nữ thần đẹp nhất và ngồi trên kiệu du hành trên đường phố để dân chúng được chiêm ngưỡng dung nhan của nữ thần. Mỗi lời nói và cử chỉ của nữ thần, đều được những tín đồ sùng bái coi là dấu hiệu của sự may mắn, tốt lành.
Vì vậy, ngay khi Preeti Shakya xuất hiện, những người dân sùng bái đều cố gắng để đón lấy những biểu hiện trên gương mặt của nàng. Người dân Nepal quan niệm mỗi biểu hiện trên nét mặt hoặc cử chỉ của Kumari đều được coi là điềm báo. Người gặp được “nữ thần sống” với khuôn mặt lạnh như băng có thể xem là người may mắn bởi lúc này mọi ước nguyện của người đó đã được nữ thần chấp nhận.
Nếu như ai thấy “nữ thần sống” khóc hoặc cười thì vô cùng lo lắng bởi đó là điềm báo của bệnh tật nặng hoặc cái chết. Người dân Nepal cũng tin rằng khi “nữ thần sống” ứa nước mắt là điềm báo có ai đó sắp chết hoặc than phiền về thức ăn nghĩa là có người sắp mất mát về tiền bạc.
Quá trình tuyển chọn khắc nghiệt
Tục lệ thờ “nữ thần sống” ở Nepal bắt nguồn từ triều đại vua Mara thế kỷ thứ 16, sau đó được triều đại vua Shara kế thừa. Tại Nepal, “nữ thần sống” được gọi là “Kamari”, theo tiếng Nepal có nghĩa là thần trinh tiết. “Nữ thần sống” ở Nepal được coi là hiện thân của nữ thần tối cao Durga của Ấn Độ giáo.
Khắp vương quốc Nepal có khoảng 5 “nữ thần sống” và mỗi Kumari trị vì một khu vực để ban phước lành cho người dân ở đó. Quan trọng nhất và được tôn thờ nhất là “nữ thần Hoàng gia” sống trong ngôi đền ở thủ đô Kathmandu. Chính vì việc tôn thờ “nữ thần sống” đã trở thành một tục lệ thiêng liêng ở nơi đây nên việc tuyển chọn nữ thần cũng phải vô cùng khắt khe và cẩn trọng.
Theo truyền thống, các Kumari được lựa chọn từ những bé gái khoảng 3 - 5 tuổi thuộc dòng tộc Shakya, cùng dòng tộc với Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Các ứng viên phải có một cơ thể hoàn hảo không có bất cứ một khuyết tật nào, chưa từng bị thương hay chảy máu. Bé gái nào được chọn làm Kumari phải hội tụ đủ một số đặc điểm như: da cổ phải trắng, lưng thẳng không bị gù, lông mày cong và nhỏ, chân thẳng, mắt đen, tóc đen và mượt, tay chân thon dài…
Theo cách gọi của người dân Nepal đó là hội đủ 32 điểm cát tường mới được lọt vào vòng cuối cùng của công cuộc tuyển chọn nữ thần. Ở vòng cuối mới thực sự là những cuộc thử thách rùng rợn. Ngoài tiêu chuẩn về hình thể, muốn trở thành “nữ thần sống” còn phải có những tố chất hơn người như can đảm, không biết sợ và bình tĩnh.
Những ứng viên cho ngôi vị nữ thần lần lượt phải thực hiện những nghi lễ bí mật. Họ bị nhốt một mình trong gian điện rộng lớn của miếu thần, xung quanh tối đen như mực, để đầy đầu trâu máu me be bét, xương sọ người, và một số người mang mặt nạ ma quỷ. Cô bé nào không mảy may sợ hãi sẽ là hoá thân của nữ thần Kumari.
Người ta nói quá trình lựa chọn “nữ thần sống” ở Nepal cũng tương tự như tìm chọn Lạt Ma ở Tây Tạng (Trung Quốc). Những gia đình có con gái được ngồi lên ngôi vị nữ thần cũng sẽ được cả triệu người kính trọng, ngưỡng mộ, sau một đêm đã được hưởng mọi vinh hoa, phú quý.
Cái giá đắt của ngôi vị nữ thần
Bất cứ cô gái nào trở thành nữ thần đều là diễm phúc đối với cả gia đình và vương quốc. Thế nhưng, bản thân cô bé phải chịu cuộc sống cô đơn lạnh lẽo suốt quãng đời dài còn lại. Sau buổi lễ đăng quang, nữ thần được đưa vào sống biệt lập trong cung điện.
Mỗi ngày, nữ thần sẽ xuất hiện hai lần trong khoảng thời gian ngắn ngủi cho mọi người chiêm ngưỡng rồi lại lui về thế giới của mình. Cô chỉ có thể rời tòa nhà đó mỗi năm đôi lần trên một cỗ xe ngựa được những người sùng đạo kéo qua những con phố của thủ đô. Cô tuyệt đối không được phép ghé thăm cha mẹ và gia đình.
Các Kumari của Nepal cũng được học tập nhưng không đến trường, không có bạn bè mà giáo viên phải đến nơi ở của “nữ thần sống” để giảng dạy. Nữ thần sống ẩn dật trong cung với một vài bạn chơi cùng được lựa chọn kỹ càng. Một năm cô chỉ được thấy thế giới bên ngoài vài lần khi những người mộ đạo kéo xe chở thần đi khắp thành phố.

Những gia đình có con gái được ngồi lên ngôi vị nữ thần cũng sẽ được cả
triệu người kính trọng, ngưỡng mộ, sau một đêm đã được hưởng
mọi vinh hoa, phú quý.
Tuy nhiên, cuộc sống khi làm nữ thần vẫn chưa phải là ác mộng so với khi nhiệm kì của nữ thần kết thúc. Một Kumari sẽ bị thay thế khi đến tuổi dậy thì hoặc phạm phải những quy định cấm của một nữ thần trinh nữ. Sau khi rời bỏ cuộc sống nữ thần, trở về là người bình thường, các cô gái thường phải đối diện với một cú sốc lớn.
Một “cựu nữ thần” tên là Rashmila Shakya đã kể lại sự choáng váng của mình khi trở lại đời sống thực. Khi bắt đầu có kinh nguyệt, Rashmila mất đi ngôi vị thần thánh của mình và trở về ngôi nhà nhỏ xây bằng gạch và bùn của gia đình trong một ngõ hẻm ở vùng phụ cận nghèo khó của Kathmandu. Từ đó, cựu tiểu thần nữ không biết đọc, biết viết phải bắt đầu xây dựng lại cuộc đời của mình từ con số không.
Tàn khốc nhất đối với những cựu “nữ thần sống” đó là tin đồn độc địa được lưu truyền trong dân chúng: Nếu người đàn ông nào kết hôn với một cựu “nữ thần sống” thì sẽ bị hộc máu chết chỉ trong vòng 6 tháng.
Đây chính là lí do khiến cho những cô gái sau khi từ bỏ ngôi vị nữ thần đều phải chấp nhận một cuộc sống tình duyên vô cùng khắc nghiệt. Giống nhiều cựu nữ thần khác, cô vẫn chưa lấy chồng bởi phần lớn đàn ông đều lo sợ rằng họ sẽ phải chết yểu khi lấy những cô gái này. Tất nhiên, đó chỉ là những quan niệm vô cùng lạc hậu. Theo thời gian, có nhiều “nữ thần sống” cũng đã dũng cảm “bước qua lời nguyền”.
Shira Suga - cựu “nữ thần sống” - đã kết hôn với một công nhân ngành xây dựng từ năm 15 tuổi, và họ đã sống với nhau vô cùng hạnh phúc cho tới hơn 90 tuổi. Chính phủ Nepal cũng đã đưa ra những chính sách trợ cấp cho các cựu “nữ thần sống”, phần nào an ủi cuộc sống của họ sau khi trút bỏ lớp áo thánh thần.
Nhiệm kì của nữ thần
Đó là một ngày của tháng 10 khi mà người dân Nepal hoan hỉ ăn mừng lễ hội Desain - một trong những lễ hội lớn nhất của vương quốc nhỏ bé nằm trên dãy Himalaya này. Người dân Nepal háo hức truyền tai nhau về một Kumari - vị thần trinh nữ sống mới của họ, thay thế cho người tiền nhiệm đã bị phế truất do đến tuổi dậy thì. Vị thần trinh nữ mới có tên là Preeti Shakya, mới chỉ lên 4 tuổi.
Sau buổi lễ phong nữ thần diễn ra trong ngôi đền, Preeti Shakya sẽ từ bỏ cuộc sống bình thường của mình để trở thành vị thánh sống của người dân Nepal. Dù là người theo đạo Hindu hay đạo Phật đều sùng kính nữ thần này, coi nàng là cội nguồn cho sự thịnh vượng và hòa bình trên vương quốc.
Trong vòng 8 năm, cho tới tận tuổi dậy thì, Preeti Shakya sẽ được cả người Hindu và tín đồ Phật giáo sùng kính như một vị thánh bảo vệ cho đức vua và toàn thể thần dân của vương quốc Nepal.
Đúng 9 giờ sáng, vị nữ thần mới xuất hiện. Tất cả dân chúng bỗng nhốn nháo khi có ai đó hô lớn: “Nữ thần, nữ thần!”. Trong phút chốc, tất cả người dân quỳ rạp xuống đất và rầm rì khấn vái. Qua ô cửa sổ nhỏ của ngôi đền, nữ thần xuất hiện trong bộ trang phục màu đỏ với tóc vấn cao cùng nhiều trang sức và một con mắt thứ ba được vẽ trên trán vô cùng huyền bí. Nữ thần có vẻ mặt hơi buồn, thờ ơ đưa mắt nhìn tất cả mọi người.
Người dân Nepal lúc này mới có cơ hội được diện kiến vị nữ thần trinh nữ mới của vương quốc mình. Nữ thần có một làn da mịn màng, bàn tay nuột nà, đôi mắt trong sáng và hàm răng trắng đều tăm tắp. Tất cả mọi người đều tỏ ra hài lòng với sự lựa chọn của các giáo sĩ hoàng gia về nữ thần mới này. Họ tin rằng Preeti Shakya sẽ mang lại cho họ những may mắn và luồng sinh khí mới trong cuộc sống.
Từ khi bắt đầu cuộc sống của một Kumari, Preeti Shakya sẽ luôn phải mặc trên mình trang phục màu đỏ. Người ta cột chặt tóc cô bé thành búi và vẽ cho em một con mắt thứ ba vào giữa trán. Đây là con mắt xua đuổi tà ma trong đức tin của người Hindu.
Trong thời gian làm nữ thần, Preeti Shakya sẽ sống tách biệt với tất cả mọi người trong cung điện nhỏ của riêng mình với một chế độ sinh hoạt của nữ thần. Trước 7 giờ sáng mỗi ngày, “nữ thần sống” phải trở dậy với sự giúp đỡ của người hầu tiến hành vệ sinh cá nhân và trang điểm, khoác lên người bộ trang phục riêng của mình.
9 giờ sáng hàng ngày, Preeti Shakya phải tới ngai vàng ngồi để dân chúng tới lễ. Ngày nào cũng vậy, cứ vào lúc 12 giờ trưa và 4 giờ chiều, “nữ thần sống” phải mặc quần áo màu đỏ, đầu đội vương miện bằng bạc, đứng nơi cửa sổ để du khách chiêm ngưỡng. Những người dân Nepal quan niệm rằng việc nhìn thấy được nữ thần là một trong những điềm may mắn của họ.
Tục lệ thờ “nữ thần sống” ở Nepal bắt nguồn từ triều đại vua Mara
thế kỷ thứ 16, sau đó được triều đại vua Shara kế thừa.
Trong ngày lễ quan trọng, “nữ thần sống” được trang điểm kĩ lưỡng, khoác lên mình bộ quần áo nữ thần đẹp nhất và ngồi trên kiệu du hành trên đường phố để dân chúng được chiêm ngưỡng dung nhan của nữ thần. Mỗi lời nói và cử chỉ của nữ thần, đều được những tín đồ sùng bái coi là dấu hiệu của sự may mắn, tốt lành.
Vì vậy, ngay khi Preeti Shakya xuất hiện, những người dân sùng bái đều cố gắng để đón lấy những biểu hiện trên gương mặt của nàng. Người dân Nepal quan niệm mỗi biểu hiện trên nét mặt hoặc cử chỉ của Kumari đều được coi là điềm báo. Người gặp được “nữ thần sống” với khuôn mặt lạnh như băng có thể xem là người may mắn bởi lúc này mọi ước nguyện của người đó đã được nữ thần chấp nhận.
Nếu như ai thấy “nữ thần sống” khóc hoặc cười thì vô cùng lo lắng bởi đó là điềm báo của bệnh tật nặng hoặc cái chết. Người dân Nepal cũng tin rằng khi “nữ thần sống” ứa nước mắt là điềm báo có ai đó sắp chết hoặc than phiền về thức ăn nghĩa là có người sắp mất mát về tiền bạc.
Quá trình tuyển chọn khắc nghiệt
Tục lệ thờ “nữ thần sống” ở Nepal bắt nguồn từ triều đại vua Mara thế kỷ thứ 16, sau đó được triều đại vua Shara kế thừa. Tại Nepal, “nữ thần sống” được gọi là “Kamari”, theo tiếng Nepal có nghĩa là thần trinh tiết. “Nữ thần sống” ở Nepal được coi là hiện thân của nữ thần tối cao Durga của Ấn Độ giáo.
Khắp vương quốc Nepal có khoảng 5 “nữ thần sống” và mỗi Kumari trị vì một khu vực để ban phước lành cho người dân ở đó. Quan trọng nhất và được tôn thờ nhất là “nữ thần Hoàng gia” sống trong ngôi đền ở thủ đô Kathmandu. Chính vì việc tôn thờ “nữ thần sống” đã trở thành một tục lệ thiêng liêng ở nơi đây nên việc tuyển chọn nữ thần cũng phải vô cùng khắt khe và cẩn trọng.
Theo truyền thống, các Kumari được lựa chọn từ những bé gái khoảng 3 - 5 tuổi thuộc dòng tộc Shakya, cùng dòng tộc với Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Các ứng viên phải có một cơ thể hoàn hảo không có bất cứ một khuyết tật nào, chưa từng bị thương hay chảy máu. Bé gái nào được chọn làm Kumari phải hội tụ đủ một số đặc điểm như: da cổ phải trắng, lưng thẳng không bị gù, lông mày cong và nhỏ, chân thẳng, mắt đen, tóc đen và mượt, tay chân thon dài…
Theo cách gọi của người dân Nepal đó là hội đủ 32 điểm cát tường mới được lọt vào vòng cuối cùng của công cuộc tuyển chọn nữ thần. Ở vòng cuối mới thực sự là những cuộc thử thách rùng rợn. Ngoài tiêu chuẩn về hình thể, muốn trở thành “nữ thần sống” còn phải có những tố chất hơn người như can đảm, không biết sợ và bình tĩnh.
Những ứng viên cho ngôi vị nữ thần lần lượt phải thực hiện những nghi lễ bí mật. Họ bị nhốt một mình trong gian điện rộng lớn của miếu thần, xung quanh tối đen như mực, để đầy đầu trâu máu me be bét, xương sọ người, và một số người mang mặt nạ ma quỷ. Cô bé nào không mảy may sợ hãi sẽ là hoá thân của nữ thần Kumari.
Người ta nói quá trình lựa chọn “nữ thần sống” ở Nepal cũng tương tự như tìm chọn Lạt Ma ở Tây Tạng (Trung Quốc). Những gia đình có con gái được ngồi lên ngôi vị nữ thần cũng sẽ được cả triệu người kính trọng, ngưỡng mộ, sau một đêm đã được hưởng mọi vinh hoa, phú quý.
Cái giá đắt của ngôi vị nữ thần
Bất cứ cô gái nào trở thành nữ thần đều là diễm phúc đối với cả gia đình và vương quốc. Thế nhưng, bản thân cô bé phải chịu cuộc sống cô đơn lạnh lẽo suốt quãng đời dài còn lại. Sau buổi lễ đăng quang, nữ thần được đưa vào sống biệt lập trong cung điện.
Mỗi ngày, nữ thần sẽ xuất hiện hai lần trong khoảng thời gian ngắn ngủi cho mọi người chiêm ngưỡng rồi lại lui về thế giới của mình. Cô chỉ có thể rời tòa nhà đó mỗi năm đôi lần trên một cỗ xe ngựa được những người sùng đạo kéo qua những con phố của thủ đô. Cô tuyệt đối không được phép ghé thăm cha mẹ và gia đình.
Các Kumari của Nepal cũng được học tập nhưng không đến trường, không có bạn bè mà giáo viên phải đến nơi ở của “nữ thần sống” để giảng dạy. Nữ thần sống ẩn dật trong cung với một vài bạn chơi cùng được lựa chọn kỹ càng. Một năm cô chỉ được thấy thế giới bên ngoài vài lần khi những người mộ đạo kéo xe chở thần đi khắp thành phố.
Những gia đình có con gái được ngồi lên ngôi vị nữ thần cũng sẽ được cả
triệu người kính trọng, ngưỡng mộ, sau một đêm đã được hưởng
mọi vinh hoa, phú quý.
Tuy nhiên, cuộc sống khi làm nữ thần vẫn chưa phải là ác mộng so với khi nhiệm kì của nữ thần kết thúc. Một Kumari sẽ bị thay thế khi đến tuổi dậy thì hoặc phạm phải những quy định cấm của một nữ thần trinh nữ. Sau khi rời bỏ cuộc sống nữ thần, trở về là người bình thường, các cô gái thường phải đối diện với một cú sốc lớn.
Một “cựu nữ thần” tên là Rashmila Shakya đã kể lại sự choáng váng của mình khi trở lại đời sống thực. Khi bắt đầu có kinh nguyệt, Rashmila mất đi ngôi vị thần thánh của mình và trở về ngôi nhà nhỏ xây bằng gạch và bùn của gia đình trong một ngõ hẻm ở vùng phụ cận nghèo khó của Kathmandu. Từ đó, cựu tiểu thần nữ không biết đọc, biết viết phải bắt đầu xây dựng lại cuộc đời của mình từ con số không.
Tàn khốc nhất đối với những cựu “nữ thần sống” đó là tin đồn độc địa được lưu truyền trong dân chúng: Nếu người đàn ông nào kết hôn với một cựu “nữ thần sống” thì sẽ bị hộc máu chết chỉ trong vòng 6 tháng.
Đây chính là lí do khiến cho những cô gái sau khi từ bỏ ngôi vị nữ thần đều phải chấp nhận một cuộc sống tình duyên vô cùng khắc nghiệt. Giống nhiều cựu nữ thần khác, cô vẫn chưa lấy chồng bởi phần lớn đàn ông đều lo sợ rằng họ sẽ phải chết yểu khi lấy những cô gái này. Tất nhiên, đó chỉ là những quan niệm vô cùng lạc hậu. Theo thời gian, có nhiều “nữ thần sống” cũng đã dũng cảm “bước qua lời nguyền”.
Shira Suga - cựu “nữ thần sống” - đã kết hôn với một công nhân ngành xây dựng từ năm 15 tuổi, và họ đã sống với nhau vô cùng hạnh phúc cho tới hơn 90 tuổi. Chính phủ Nepal cũng đã đưa ra những chính sách trợ cấp cho các cựu “nữ thần sống”, phần nào an ủi cuộc sống của họ sau khi trút bỏ lớp áo thánh thần.
Theo Phunutoday.vn
Thứ Tư, 15 tháng 2, 2012
Yakuza Nhật - Kỳ 1 : Hậu duệ của samurai tàn ác hay “người bảo vệ”?
Yakuza - mafia Nhật - có cơ cấu tổ chức tương tự như mafia phương Tây. Các vòi bạch tuộc của yakuza cũng vươn đến nhiều lĩnh vực khác nhau, chủ yếu là tống tiền doanh nghiệp, đánh bạc, buôn lậu, cho vay nặng lãi, rửa tiền, buôn bán ma tuý, kinh doanh bất động sản, thể thao, giải trí, mại dâm và cả vũ khí... Tuy nhiên, cách thức, thủ đoạn hoạt động của các tổ chức yakuza xem ra còn tinh vi hơn mafia phương Tây.
Nguồn gốc của yakuza đến nay vẫn còn là một vấn đề gây tranh cãi. Một số người cho rằng những tên tội phạm này là hậu duệ của các samurai tàn ác ở thế kỷ 17. Những chiến binh samurai này có lối phục trang và kiểu tóc kỳ quái, sử dụng một thứ tiếng lóng, và đeo những thanh kiếm dài một cách khác thường ở đai lưng.
Các samurai này cũng được biết đến dưới cái tên “lính nhà quan”. Dưới thời vua Tokugawa, nước Nhật thái bình nên người ta không còn cần đến những đội quân samurai như thế nữa. Vì vậy, họ không được tổ chức, lãnh đạo tốt. Thiếu một sự chỉ huy tập trung, họ cuối cùng chuyển từ một lực lượng phục vụ cho nhân dân sang nghề trộm cướp và đâm thuê chém mướn.
Tuy nhiên, các thành viên yakuza ngày nay lại phản bác quan điểm này và thay vào đó khẳng định mình là hậu duệ của những người làm nhiệm vụ bảo vệ các ngôi làng. Chính sử về yakuza miêu tả, tổ tiên của những tên tội phạm này là những anh hùng luôn chiến đấu vì chính nghĩa, giúp đỡ những người có thân phận nghèo hèn, giống như nhân vật Robin Hood trong thời kỳ trung cổ ở nước Anh.
Các thành viên yakuza ngày nay được chia làm ba loại: Những tên ăn cắp vặt trên đường phố, những con bạc và những tên lưu manh. Những tên ăn cắp vặt và con bạc xuất hiện từ thế kỷ 18 trong khi những tên lưu manh xuất hiện sau Thế chiến II, khi mà nhu cầu đối với các loại hàng hóa trên thị trường chợ đen đã làm nảy sinh một loại hình tội phạm mới. Thông thường, trong khi những tên ăn cắp vặt hoạt động ở các chợ và hội chợ thì địa bàn hoạt động của những con bạc là ở các thành phố và tuyến đường cao tốc.
Ngược lại, những tên lưu manh lại được tổ chức giống như các băng nhóm găngxtơ ở Mỹ dưới thời Al Capone; chúng thường sử dụng biện pháp đe dọa và tống tiền để đạt được các mục đích. Sau Thế chiến II, quyền lực của chính phủ bị lấn lướt bởi uy thế của lực lượng chiếm đóng, những tên lưu manh có cơ hội phát triển và lực lượng này ngày một đông hơn. Chúng cũng đưa loại hình tội phạm có tổ chức ở Nhật Bản lên một nấc thang bạo lực mới, thay thế cho những thanh kiếm truyền thống là các khẩu súng hiện đại, cho dù lúc này việc sở hữu súng bị coi là phạm pháp.
Vậy mà các thành viên yakuza lại tự hào khi bị coi là bị xã hội ruồng bỏ, và thuật ngữ yakuza phản ánh hình ảnh của nhóm này như là những kẻ bị loại ra khỏi xã hội. Theo tiếng địa phương, ya nghĩa là số 8, ku là 9, và sa là 3. Tổng của ba số này là 20, là số bị thua trong đánh bài hana-fuda. Yakuza là “những bàn tay xấu của xã hội”, một “thương hiệu” của những tên tội phạm, giống như cái cách mà những tên tội phạm ở Mỹ đã xăm khẩu hiệu “Sinh ra để thua” trên bắp tay của chúng.
Các thành viên của yakuza cũng thích xăm trổ, nhưng các hình xăm của chúng thường là các hoa văn xuất hiện cả ở mặt trước và mặt sau của cơ thể, cũng như là ở cả cánh tay, khuỷu tay và ở chân. Hình các con rồng, các loại hoa, phong cảnh núi non, biển động, phù hiệu của băng nhóm và các hình vẽ trừu tượng là những thứ mà các thành viên yakuza thường chọn để xăm lên mình. Việc xăm trổ này thường gây ra những đau đớn cho khổ chủ và có thể phải mất đến hàng trăm giờ, nhưng nó lại được coi là một bài kiểm tra bản lĩnh của một thành viên yakuza.

Quận Ginza nổi tiếng về ăn chơi của thủ đô Tôkyô.
Trong mắt người phương Tây, kiểu comlê trong những năm 1950 của yakuza dường như là khá buồn cười. Những bộ comlê láng bóng, đôi giày mũi nhọn và mái tóc hơi dài được vuốt keo là những nét đặc trưng của các thành viên yakuza ngày nay. Chúng cũng ưa thích các dòng xe hơi cỡ lớn hào nhoáng của Mỹ, như Cadillacs và Lincolns. Không giống như các nhóm tội phạm có tổ chức khác trên thế giới, yakuza không muốn giấu mình. Trong thực tế, ở hầu hết các thành phố của Nhật Bản, các câu lạc bộ xã hội của yakuza và trụ sở chính của băng thường được trang hoàng bằng những ký hiệu và biểu trưng nổi bật.
Theo thống kê, Nhật Bản có 110.000 thành viên yakuza thường xuyên hoạt động, được chia thành 2.500 gia đình. Ngược lại, nước Mỹ có dân số đông gấp đôi dân số Nhật Bản nhưng chỉ có 20.000 thành viên của các tổ chức tội phạm có tổ chức. Ảnh hưởng của yakuza rộng hơn và được chấp nhận hơn trong xã hội Nhật Bản khi so sánh với tội phạm có tổ chức ở Mỹ. Ngoài ra, yakuza còn mở rộng ảnh hưởng ra ngoài lãnh thổ Nhật Bản sang các nước châu Á khác, và thậm chí sang cả nước Mỹ.
Nguồn gốc của yakuza đến nay vẫn còn là một vấn đề gây tranh cãi. Một số người cho rằng những tên tội phạm này là hậu duệ của các samurai tàn ác ở thế kỷ 17. Những chiến binh samurai này có lối phục trang và kiểu tóc kỳ quái, sử dụng một thứ tiếng lóng, và đeo những thanh kiếm dài một cách khác thường ở đai lưng.
Các samurai này cũng được biết đến dưới cái tên “lính nhà quan”. Dưới thời vua Tokugawa, nước Nhật thái bình nên người ta không còn cần đến những đội quân samurai như thế nữa. Vì vậy, họ không được tổ chức, lãnh đạo tốt. Thiếu một sự chỉ huy tập trung, họ cuối cùng chuyển từ một lực lượng phục vụ cho nhân dân sang nghề trộm cướp và đâm thuê chém mướn.
Tuy nhiên, các thành viên yakuza ngày nay lại phản bác quan điểm này và thay vào đó khẳng định mình là hậu duệ của những người làm nhiệm vụ bảo vệ các ngôi làng. Chính sử về yakuza miêu tả, tổ tiên của những tên tội phạm này là những anh hùng luôn chiến đấu vì chính nghĩa, giúp đỡ những người có thân phận nghèo hèn, giống như nhân vật Robin Hood trong thời kỳ trung cổ ở nước Anh.
Các thành viên yakuza ngày nay được chia làm ba loại: Những tên ăn cắp vặt trên đường phố, những con bạc và những tên lưu manh. Những tên ăn cắp vặt và con bạc xuất hiện từ thế kỷ 18 trong khi những tên lưu manh xuất hiện sau Thế chiến II, khi mà nhu cầu đối với các loại hàng hóa trên thị trường chợ đen đã làm nảy sinh một loại hình tội phạm mới. Thông thường, trong khi những tên ăn cắp vặt hoạt động ở các chợ và hội chợ thì địa bàn hoạt động của những con bạc là ở các thành phố và tuyến đường cao tốc.
Ngược lại, những tên lưu manh lại được tổ chức giống như các băng nhóm găngxtơ ở Mỹ dưới thời Al Capone; chúng thường sử dụng biện pháp đe dọa và tống tiền để đạt được các mục đích. Sau Thế chiến II, quyền lực của chính phủ bị lấn lướt bởi uy thế của lực lượng chiếm đóng, những tên lưu manh có cơ hội phát triển và lực lượng này ngày một đông hơn. Chúng cũng đưa loại hình tội phạm có tổ chức ở Nhật Bản lên một nấc thang bạo lực mới, thay thế cho những thanh kiếm truyền thống là các khẩu súng hiện đại, cho dù lúc này việc sở hữu súng bị coi là phạm pháp.
Vậy mà các thành viên yakuza lại tự hào khi bị coi là bị xã hội ruồng bỏ, và thuật ngữ yakuza phản ánh hình ảnh của nhóm này như là những kẻ bị loại ra khỏi xã hội. Theo tiếng địa phương, ya nghĩa là số 8, ku là 9, và sa là 3. Tổng của ba số này là 20, là số bị thua trong đánh bài hana-fuda. Yakuza là “những bàn tay xấu của xã hội”, một “thương hiệu” của những tên tội phạm, giống như cái cách mà những tên tội phạm ở Mỹ đã xăm khẩu hiệu “Sinh ra để thua” trên bắp tay của chúng.
Các thành viên của yakuza cũng thích xăm trổ, nhưng các hình xăm của chúng thường là các hoa văn xuất hiện cả ở mặt trước và mặt sau của cơ thể, cũng như là ở cả cánh tay, khuỷu tay và ở chân. Hình các con rồng, các loại hoa, phong cảnh núi non, biển động, phù hiệu của băng nhóm và các hình vẽ trừu tượng là những thứ mà các thành viên yakuza thường chọn để xăm lên mình. Việc xăm trổ này thường gây ra những đau đớn cho khổ chủ và có thể phải mất đến hàng trăm giờ, nhưng nó lại được coi là một bài kiểm tra bản lĩnh của một thành viên yakuza.

Quận Ginza nổi tiếng về ăn chơi của thủ đô Tôkyô.
Theo thống kê, Nhật Bản có 110.000 thành viên yakuza thường xuyên hoạt động, được chia thành 2.500 gia đình. Ngược lại, nước Mỹ có dân số đông gấp đôi dân số Nhật Bản nhưng chỉ có 20.000 thành viên của các tổ chức tội phạm có tổ chức. Ảnh hưởng của yakuza rộng hơn và được chấp nhận hơn trong xã hội Nhật Bản khi so sánh với tội phạm có tổ chức ở Mỹ. Ngoài ra, yakuza còn mở rộng ảnh hưởng ra ngoài lãnh thổ Nhật Bản sang các nước châu Á khác, và thậm chí sang cả nước Mỹ.
Đình Vũ (tổng hợp)
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)




